Lời thưa của người sưu tầm và biên soạn bộ sách "Những lá thư thời chiến Việt Nam"
6:36 AM | 13/03/2016
Tháng 12 năm 2004, vào đúng dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, thay mặt một nhóm các Nhà văn và Cựu chiến binh, chúng tôi đã chính thức phát động Cuộc vận động sưu tầm và xuất bản bộ sách “Những lá thư và Nhật ký thời chiến Việt Nam” trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ý tưởng trên đã được các đồng nghiệp và bạn đọc gần xa hưởng ứng nồng nhiệt.



Các tác phẩm: “Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, “Sống để yêu thương và dâng hiến”, “Tài hoa ra trận”, “Nhật ký Vũ Xuân”, “Trở về trong giấc mơ”, “Tây tiến viễn chinh” v.v... chính là kết quả của cuộc phát động này. Và đó cũng là những tác phẩm tiêu biểu, cùng hàng trăm cuốn sách khác của “Tủ sách Mãi mãi tuổi 20”. Đặc biệt, việc xuất bản hai cuốn sách “Mãi mãi tuổi hai mươi” và “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã trở thành một trong 10 sự kiện văn hóa tiêu biểu của Việt Nam trong năm 2005, do Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức bình chọn. Cũng năm đó, tôi vinh dự được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin. Năm 2012, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác nhận: Đặng Vương Hưng là Nhà văn Việt Nam đầu tiên tổ chức Cuộc vận động Sưu tầm và xuất bản bộ sách “Những lá thư và Nhật ký thời chiến Việt Nam”.

Riêng mảng sách tư liệu về “Những lá thư thời chiến Việt Nam”, chúng tôi đã xuất bản tập 1 và tập 2. Không phải ngẫu nhiên mà ấn phẩm đầu tiên trong bộ sách nêu trên đã ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 30 và 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Mới đó, mà nay đã tròn 10 năm!

Là một nhà văn, đồng thời cũng là một người lính đã từng trực tiếp cầm súng bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, như nhiều cựu chiến binh khác, tôi hiểu thế nào là chiến tranh cùng sự hy sinh và mất mát!

Nghề làm báo đã giúp tôi đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, để tìm hiểu nhiều sự kiện và nhân chứng... Công việc viết văn đã “ngộ” ra một điều: Đôi khi, chính những trang thư, nhật ký, ghi chép... tưởng chừng rất đỗi riêng tư, lại mang đến cho chúng ta những thông tin và tư liệu cực kỳ quý báu; chúng có thể gợi mở biết bao điều về đời sống tinh thần, vật chất và cả văn hóa của xã hội trong quá khứ; góp phần lý giải những bí mật của lịch sử, làm cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta tốt đẹp hơn!

Ý tưởng làm một bộ sách tư liệu về chiến tranh qua những lá thư và nhật ký, được viết trong thời chiến của chúng tôi đã hình thành như thế, từ nhiều năm nay. Đó là một bộ sách tư liệu chân thực về các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Cho dù, những cuộc chiến đó đã kết thúc từ lâu trên đất nước ta, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn in đậm trong mỗi gia đình Việt Nam, nhất là với những gia đình cựu chiến binh.

 

2.

Tại sao lại là thư và nhật ký mà không phải những thứ khác? Tôi cũng là một cựu chiến binh, nhưng suốt những năm chiến tranh chưa hề viết một lá thư, chưa ghi một trang nhật ký nào” - một bạn đọc đã điện thoại cho chúng tôi như thế. Và giọng ông thật hào hứng: “Nhưng tôi muốn kể cho mọi người nghe một câu chuyện hoàn toàn có thật này: Vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi chiến đấu ở tuyến lửa Khu Bốn. Từ đơn vị muốn ra bưu điện gần nhất phải đi bộ mất nửa ngày, lội suối, băng rừng và vượt qua những bãi bom... Lần đó, sau mấy tháng trời không nhận được tin nhà, sợ cha mẹ và vợ con lo lắng, tôi quyết định dành một ngày chủ nhật để đi bộ ra bưu điện. Đó là một ngày nắng, nóng, đường đất bụi mù, thỉnh thoảng máy bay địch gầm rú rẹt ngang bầu trời và thả bom... Tôi đến bưu điện đã quá trưa, vừa mệt, vừa khát và đói. Tôi xin chị nhân viên bưu điện cho đánh một bức điện khẩn về quê cho gia đình. Các anh chị có biết nội dung bức điện ấy thế nào không? Tôi đã chẳng hỏi thăm sức khỏe của cha mẹ, cũng không có “thương nhớ” cho vợ con, mà chỉ viết một dòng, vẻn vẹn đúng 8 chữ: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!”, rồi... ký tên và chấm hết. Sau đó, lại hớn hở đi bộ trở lại đơn vị... Thế hệ chúng tôi là như thế. Đánh giặc thật gian khổ, ác liệt mà cứ hồn nhiên như không!”...

Vâng, quả thực là có những người, có thể do thói quen, trong suốt cuộc đời không viết một lá thư, không ghi một trang nhật ký nào. Nhưng với nhiều người khác thì viết thư và ghi nhật ký lại là một nhu cầu không thể thiếu, thậm chí lại là sự đam mê.

Thực ra, viết thư, hay ghi nhật ký, đều không phải là làm văn, mà trước hết đó chính là cuộc đời. Không có một người nào khi đặt bút viết những dòng chữ ấy lại nghĩ rằng, sau mấy chục năm nữa chúng sẽ được in thành sách và họ trở thành những tác giả... Bởi thế, tất cả đều chân thực và sinh động đến lạ kỳ.

Ngoài những trang viết phơi phới lạc quan chiến thắng, đây đó ta còn bắt gặp cả những “Nỗi buồn chiến tranh”, những trang viết thấm đẫm nước mắt. Ta biết được đã có lúc người lính hoang mang, vì anh có thể đón nhận những điều phũ phàng nhất do chiến tranh mang lại. Thậm chí, đã có phút giây anh nghĩ tới cái chết. Nhưng đó là những tình cảm rất thật của con người. Trong mỗi người lính đều có những niềm vui, nỗi buồn và tình yêu không bao giờ vơi cạn... Điều quan trọng là họ vẫn tiếp tục chiến đấu cho tới ngày toàn thắng. Không ai có thể phủ nhận được lý tưởng cao đẹp và tình yêu quê hương đất nước của các anh - những người đã ngã xuống và những người còn sống sót!

Sẽ không có bút mực và cũng không có nhà văn nào viết được tác phẩm như thế; trừ những người trong cuộc viết ra trong một khoảnh khắc nào đó, đáp ứng nhu cầu của tình cảm riêng tư. Đó là những trang viết máu thịt của cuộc đời. Đọc lên, ta có thể hình dung ra từng số phận con người. Và cao hơn nữa là hơi thở của cả thời đại. Chính vì thế, qua những trang thư ấy, ta có thể hiểu được phần nào quan niệm, lý tưởng, lẽ sống, sự cống hiến và hy sinh vì Tổ quốc của nhiều thế hệ, đã góp phần làm nên ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 vĩ đại của dân tộc!

 

3.

Những người thân của các liệt sỹ khi gửi cho chúng tôi những bức thư và kỉ vật còn lại của con, em, chồng, cha, cô, chú mình bên cạnh ước vọng, gửi cho người biên soạn Những lá thư thời chiến Việt Nam, còn có ước vọng lưu giữ lại kỉ vật cuối cùng của người con, người chồng, người anh, người em yêu quý. Chẳng hạn, bác Nguyễn Thanh Hà ở Nghệ An bày tỏ: Từ lâu tôi vẫn muốn gửi những bức thư của anh trai tôi là Thanh Sơn cho một bảo tàng nào đó để lưu giữ. Nhưng tôi cứ phân vân liệu những bức thư của anh trai tôi có được trân trọng hay không, khi mà có hàng triệu chiến sỹ cũng có thư như anh tôi? Nay biết được ý tưởng của Nhà văn Đặng Vương Hưng, tôi rất mừng. Tôi cứ nghĩ nếu có một bảo tàng nào đó muốn sưu tập những bức thư của các chiến sỹ ta thì hay biết mấy, tôi sẵn sàng kính tặng…

 Muốn lưu giữ lại những kỉ vật hào hùng và đau thương của một thời chiến tranh còn để làm bài học tinh thần, bài học lịch sử cho những thế hệ mai sau. Đấy cũng là nội dung của nhiều bức thư của người cung cấp tư liệu cho bộ sách Những lá thư thời chiến Việt Nam

Khi tập hợp và biên soạn những lá thư cho bộ sách này, chúng tôi giữ nguyên tắc: Tôn trọng tối đa văn bản gốc - từ cách diễn đạt và câu chữ thường dùng của người viết ; đến những từ địa phương như: gởi (gửi), mần (làm), rứa (vậy), ràn (chuồng), đọi (bát), ba, má, mẹ, me, bu, u, đẻ, bầm,... Cả cách viết tắt, thói quen dùng dấu gạch nối (-), hay gạch chéo (/), hoặc chấm (.) giữa các chữ số, khi đề ngày tháng trong thư, v.v... đều được giữ nguyên. Chúng tôi cũng giữ nguyên cả những chữ viết tắt như “v/đề”, “T/Sơn”, “k.chiến”, TB,… thay cho cách viết đầy đủ là “vấn đề”, “Trường Sơn”, “kháng chiến”, “tái bút”; giữ nguyên cả những chữ mà người viết đã cố ý viết hoa chữ cái đầu hoặc viết hoa toàn bộ, như Hòa bình, Thắng lợi, Tổ quốc, Chung thủy, HẠNH PHÚC, CHIẾN THẮNG, MẸ, TỔ QUỐC,… hoặc những dòng, những đoạn mà người viết thư đã gạch chân để nhấn mạnh,… Thậm chí chúng tôi giữ nguyên cả cách viết số thay cho chữ trong tổ hợp tên riêng như “anh 8 Trần”, “anh 6 Di” thay vì viết “anh Tám Trần”, “anh Sáu Di”, v.v… Bởi chúng tôi hiểu cách viết ấy rất có thể ghi dấu một hoàn cảnh, một tính cách, gửi gắm một ước vọng, một nỗi niềm và tâm trạng cụ thể.

Chúng tôi cũng giữ nguyên cách đặt vị trí dấu ghi thanh điệu (trên chữ ghi âm vị bán âm trong những âm tiết không có âm cuối, như khỏe, hòa, xòe, thủy), hoặc cách viết “y” của nguyên âm /i/ trong các âm tiết mở của những từ Hán Việt (như lý luận, kỹ thuật, hy sinh, chiến sỹ). Bởi vì chúng tôi hiểu đấy là hình thức chính tả của một thời, ta có thể tìm thấy ở đấy dáng dấp của một kiểu chính tả của những năm của thế kỉ XX. Hơn thế, như chúng tôi đã trình bày ở trên: luôn tôn trọng đến mức tối đa văn bản gốc.

Cũng trong cái mạch chung - tôn trọng tối đa văn bản gốc - ở những bức thư có những dòng thư viết thêm bên lề hoặc những dòng viết của người nhận thư, chúng tôi đều có chú thích cụ thể.

 

4.

Hầu hết những người có thư in trong bộ sách này là các chiến sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân thời kháng chiến chống Mỹ (và cả kháng chiến chống Pháp) gửi cho thân nhân của các anh và ngược lại. Ngoài ra, bộ sách này còn có cả thư của những người lính thuộc “phía bên kia”. Tại sao không, khi mà chiến tranh phải có sự tham gia từ nhiều phía. Nếu nếu nhìn dưới góc độ tình cảm cá nhân, gia đình… thì những người lính ra trận đều có vợ con, cha mẹ và nỗi nhớ nhung giống nhau. Nếu họ không may ngã xuống, thì dù ở bên nào cũng đều để lại nỗi mất mát, trống vắng và đau đớn không thể bù đắp được cho người thân. Bởi thế, để làm cho tác phẩm nhân văn và đầy đủ hơn, chúng tôi rất muốn sưu tầm, biên soạn và bổ sung thêm vào bộ sách những lá thư từ phía “bên kia” để góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh.

Những người viết những lá thư trong bộ sách này xuất thân từ nhiều thành phần, nhiều ngành nghề: trí thức, công nhân, nghệ sỹ, giảng viên đại học, họa sỹ, nông dân, sinh viên, học sinh, v.v... với nhiều trình độ học vấn khác nhau.

Có những lá thư được viết bằng thơ, có những lá thư mộc mạc chân chất. Có cả những lá thư người đứng tên không biết chữ, phải nhờ người khác viết hộ. Nhiều bức thư được viết như nói, sử dụng từ ít dùng, cách ví von cũng mộc mạc. Thậm chí, một số đoạn ta bắt gặp những câu chữ nôm na, diễn đạt lủng củng; sai cả ngữ pháp và chính tả... Thành thử, ở một vài bức thư chúng tôi phải lược bỏ một số câu chữ và chỉnh sửa những lỗi chính tả.

Để bạn đọc dễ hiểu, chúng tôi đã đặt “tít phụ” cho từng phần và cố gắng cung cấp thêm thông tin, tư liệu về tác giả của những bức thư, nhật ký được giới thiệu trong sách: khi viết những lá thư này họ là ai, làm gì, ở đâu... Hiện nay còn sống, hay đã mất... Thậm chí, tại một số trang, chúng tôi đã để nguyên văn lời giới thiệu của những người đã cung cấp thông tin và tư liệu cho cuốn sách. Ngoài ra, ở đầu một số lá thư, chúng tôi có trích một đoạn ấn tượng nhất, in chữ đậm để thay cho lời dẫn. Để tư liệu thêm sức thuyết phục, chúng tôi còn công khai cả địa chỉ và số điện thoại của người cung cấp. Tuy nhiên, sau 10 năm chắc chắn nhiều địa chỉ và số điện thoại trong số đó đã thay đổi. Thậm chí, một số người cung cấp tư liệu và nhân chứng có thể đã không còn nữa…

Những lá thư, những trang nhật ký mà chúng tôi sưu tầm được nhờ sự nhiệt tình của bạn đọc, đều được viết trong thời gian đất nước có chiến tranh. Chúng tôi gọi đó là “Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam”. Những trang viết đó có tuổi “trẻ” nhất cũng đã hơn 40 năm. Có nhiều trang viết xuất hiện cách đây hơn nửa thế kỷ. Bản gốc của chúng hầu hết là những trang giấy đã bạc màu, nét mực đã nhòe, mờ vì thời gian, mưa nắng, vì cả mồ hôi và nước mắt.

Một điều đặc biệt là: phần lớn các tác giả góp mặt trong bộ sách này đều không còn nữa. Họ đã ngã xuống ngoài chiến trường, hoặc bị thương và di chứng chiến tranh, nên đã mất sau khi trở về. Ngoài thư (bản chính) mà thân nhân của họ đã tin tưởng, trân trọng chuyển cho chúng tôi, còn có cả những di ảnh của người đã khuất - Di vật thiêng liêng của gia đình - với hy vọng: “Sau khi cuốn sách được phát hành, biết đâu sẽ tìm được phần mộ liệt sỹ, hoặc thông tin mất tích của người thân”…

Thứ tự trước sau của những bức thư có trong bộ sách này được sắp xếp không có sự phân biệt nhân thân tác giả đã viết ra chúng (dù là một vị tướng, hay anh lính binh nhì, là cán bộ, trí thức, hay công nhân, nông dân bình thường... cũng đều bình đẳng như nhau); sự sắp xếp cũng không theo trình tự thời gian xuất hiện của những bức thư, hoặc tên tác giả theo vần A, B, C... mà hoàn toàn ngẫu nhiên, theo thứ tự chúng tôi sưu tầm được.

 

5.

Cuốn sách này là những niềm tâm sự của những người con đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiến dâng cả cuộc đời mình cho tương lai đất nước - qua những trang thư, những lời tâm tình gan ruột của những người anh, người cha, người chồng, người vợ, người con, người thầy, người bạn với những người thân yêu của mình, trong phút dừng chân trên chặng đường hành quân ra trận, trong khoảnh khắc yên lặng giữa hai trận đánh… Bạn sẽ tiếp tục gặp những dòng thư như những lời thơ ngân vang, trong trẻo, đầy thiết tha ước vọng về một cuộc sống thanh bình, bạn sẽ gặp những lời dặn dò như những lời di chúc, những lời thề quyết tâm thắng Mỹ, những lời hứa bảo toàn danh dự của những người con yêu quý của Tổ quốc trong cảnh đất nước có chiến tranh, những niềm thương yêu cháy bỏng, những nỗi nhớ thương da diết, khắc khoải, những bồn chồn lo âu, mong đợi… Bạn sẽ được biết những tâm sự dịu dàng, đằm thắm yêu thương xen lẫn tự hào trong những bức thư của anh hùng, liệt sỹ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm gửi về cho ba mẹ. Và bạn cũng được đối diện với một vài nghĩ suy của nhân vật “M”. trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, bạn sẽ được thêm một lần để hiểu về anh “M”., người mà bác sỹ Đặng Thùy Trâm đã từng gửi gắm niềm yêu thương... Hoài bão và sự lựa chọn của anh cũng là hoài bão và sự lựa chọn của bao chàng trai rất đỗi tài hoa trong những năm tháng đất nước có chiến tranh: “Trước đây, ngày kháng chiến trước và ngày ở miền Bắc thì sự nghiệp văn học là ước mơ lớn nhất của mình (...) Nhưng ngày nay, cái đó không còn là hoài bão duy nhất của mình nữa. Miền Nam đau thương quá, miền Nam quằn quại trong máu lửa 10 năm. Cha mẹ, chị em mình đó, một ngày sống trên miền Nam là một ngày tình yêu cháy bỏng của quê hương giục giã (…) bắt buộc mình phải chọn con đường của người cầm súng.

Bạn đọc trẻ thời nay rất khó hình dung, bởi có những bức thư được viết trên mảnh vải quần, thư gửi người đã chết, thư lấy từ hầm sâu bí mật dưới thành cổ Quảng Trị và những trang viết cuộc đời của chàng trai giỏi Văn nhất miền Bắc một thời đã mãi mãi tuổi hai mươi, thư tiên tri về cái chết của chính mình, thư vẫn để trên bàn thờ, thư viết từ trại Đa-vít, thư của anh hùng Tạ Lưu… Các bạn sẽ được đọc thư của các chiến sĩ điệp báo, thư của những sinh viên - chiến sỹ, thầy giáo - chiến sỹ,… Bạn sẽ được nghe kể về lai lịch bức thư sau 22 năm mới tới tay người nhận, bạn sẽ thấy bóng hình của những lá thư viết và gửi từ “địa ngục trần gian”, thư viết trong ngày vui đại thắng 30/4/1975, thư của một người yêu gửi cho người yêu đã hy sinh từ gần bốn mươi năm trước… Và bạn còn được đọc một bức thư dài 16 trang (viết tay); đọc bức thư ấy bạn sẽ thấy mình như được gặp “nguyên mẫu” các nhân vật trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, đó là “Lá thư của một người cha bị từ chối” - anh Nguyễn Trí Phước - nhưng câu chuyện lại xảy ra ở mảnh đất Thanh Chương xứ Nghệ...

Bạn sẽ rưng rưng khâm phục trước những tâm tình của anh hùng, liệt sỹ Hoàng Kim Giao, liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, liệt sỹ Lê Trọng Dũng… Bạn cũng sẽ xao xuyến cùng liệt sỹ Phan Sỹ Đoái trước màu xanh của đất trời Quảng Trị, trong cái khoảnh khắc yên bình giữa hai trận đánh; bạn sẽ ngậm ngùi xót xa thương cảm trước những ước mơ cao đẹp còn dang dở của anh lính pháo binh Nguyễn Văn Thân, của các anh lính sinh viên Nguyễn Duy Trung, Đặng Thế Cường… Bạn sẽ nao nao bồi hồi trước tâm tình của người thầy giáo - chiến sỹ Nguyễn Đại với người học trò yêu: Chẳng như em lần nào học trong nhà tắm, tôi đang ngồi trên một tảng đá, bên bếp lửa giữa rừng, trước giờ xuất phát để viết lên những dòng ly biệt này. Lửa vẫn reo lên, táp vào mặt, song có hề chi em, lửa chiến trường còn nóng hơn nhiều...

Và chắc hẳn, cũng như chúng tôi, bạn sẽ không kìm được những giọt nước mắt thương cảm khi thấy anh Nguyễn Đặng Ngãi: “Trước giờ xuất phát, đúng như dự kiến lời hẹn, con đã được gặp mẹ. Khi đoàn tàu còn cách khoảng 20 - 30 mét, con đã thấy mẹ bế cái Oanh đứng ngay đường cái, cả bác Dụ nữa. Con cố nhoài ra khỏi tàu để mẹ trông thấy, vì anh em cùng quê cho nên chúng nó hò reo quá nhiều, vì thế mà mẹ khó phát hiện được con. Con la lên đến cháy cổ họng, vậy mà tàu qua rồi mẹ mới thấy con. Con rất đau khổ khi nhìn thấy mẹ ngồi thụp xuống và lăn lóc ở đường cái, trên tay còn bế Oanh...”

Cũng như người sưu tầm và biên soạn, hẳn bạn sẽ rưng rưng trước lời căn dặn - nỗi lo lắng, tình yêu thương tha thiết, sự trân trọng kính yêu, sự tôn thờ dành cho cha mẹ và các em của các anh, các liệt sỹ Nguyễn Duy Trung, Trần Duy Ngọ, Trần Cảnh Hùng, Trần Công Nhị, Nguyễn Kỳ Sơn, Nguyễn Bá Bảo… Sống giữa chiến trường đầy bom đạn và máu lửa, anh quên mình để an ủi, động viên cha mẹ và các em an tâm về mình; anh lo hầm trú bom của mẹ và các em ở quê nhà chưa đủ kiên cố, lo mẹ và các em không kịp xuống hầm khi máy bay Mỹ bắn phá. Anh chu tất, trìu mến căn dặn các em việc lớn, việc nhỏ, việc xa, việc gần. Anh hỏi thăm quan tâm tới sức khỏe, công ăn việc làm, học hành của bà con, thầy cô, bè bạn xa gần... Trong khoảnh khắc yên bình hiếm hoi ấy, anh không nghĩ về mình, chỉ nghĩ về Đất nước, về những người thân yêu ngoài chiến trường và hậu phương. Chu đáo tận tình đến mức có anh còn dặn em gái nhớ trả cho người hàng xóm giúp anh hai bìa đậu phụ và một quả chanh, mà buổi tối ngày anh về phép, gia đình không kịp mua thức ăn, phải sang vay tạm hàng xóm.

 

6.

Để bạn đọc dễ theo dõi, với những tác giả được tuyển chọn nhiều thư (không quá 10 lá) chúng tôi đánh số “Thư số 1, 2, 3…”. Tuy nhiên, nhiều lá thư có trong bộ sách này là “Thư duy nhất” của một người không còn nữa, là ước vọng da diết, cháy lòng: Mong có thêm thông tin về con em mình để có thể tìm được mộ chí và đưa được hài cốt về quê; của những ông bố, bà mẹ đã 80, 90 tuổi; của những đứa em, những đứa con mà ngày các anh ra chiến trường còn là những em bé, nay đã là những kỹ sư, bác sĩ, chiến sĩ, công nhân, nông dân, thẩm phán, thầy cô giáo; của người yêu mà ngày anh đi là một thiếu nữ, một thanh nữ đã gửi theo tấm tình yêu thương tha thiết và lời thề thủy chung son sắt, nay đã là thiếu phụ; của những người đồng đội còn may mắn trở về, mà ngày chia tay anh tóc còn xanh thắm, nay đã nhuốm màu khói sương…

Trong mạch chung của những lá thư viết trong thời kì kháng chiến chống Mỹ của những người con của Tổ quốc, của dân tộc trong những ngày đạn bom và máu lửa với những nỗi niềm chung vì hòa bình, hạnh phúc của nhân dân, đất nước, và cả những nỗi niềm riêng tư của mỗi người, mỗi nhà, mỗi cảnh. Trải rộng trên những trang thư của các anh gửi về cho mẹ, cho em, cho vợ con, cho cô bác và bạn bè gần xa là nỗi lòng: “Con yêu làng quê non nước mình, con yêu hòa bình”, “con chỉ muốn suốt đời bên mẹ” ; “anh chỉ muốn suốt đời bên em”, “nhưng kẻ thù buộc chúng con phẩi cầm súng lên đường...”. Anh xác định rất rõ ràng: “Vì nhiệm vụ của Cách mạng, nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nhân dân và cả gia đình ta nữa nên em phải rời xa thủ đô, xa Tổ ấm gia đình” (thư của liệt sỹ Phạm Khắc Duyến); “Nhiệm vụ của con không thể thờ ơ được, do đó mùa xuân này con tạm biệt thầy mẹ, tạm biệt xóm làng, quê hương, người vợ và các con thân yêu của con để lên đường làm nhiệm vụ vĩ đại, vinh quang nhưng đầy gian khổ, khó khăn... để Nam Bắc chóng được sum họp.” (thư của Ngọc Thái); “Nhưng em ạ, ai mà lại muốn xa nhau, nhưng vì điều kiện hiện nay, máy bay Mỹ cứ hàng ngày ném bom ra bắn phá rồi làm cho mọi người chúng ta chết chóc đau thương. Như vậy thì vợ chồng chúng mình có ở nhà cũng không thể ngồi yên được.” (thư của liệt sỹ Vũ Xuân Trịnh); “Anh hỏi em có vui lòng một cách tự nhiên không thì em trả lời là có bởi vì em đã hiểu đi là gian khổ, thiếu thốn nhiều về tình cảm... Song nhìn vào tình trạng chung của đất nước, biết bao thằng trai chưa đầy 20 tuổi ngã xuống cho sự nghiệp hòa bình và biết bao tội ác mà kẻ thù gây ra đối với nhân dân mà em vui lòng nhận trách nhiệm của tuổi trẻ một cách tự nguyện chứ thực tế thì ai muốn khổ đâu anh (thư của anh Vũ Duy Kép),…

Và tương tự thư các anh, thư người thân của họ từ quê nhà gửi tới chiến trường cũng chung một khát vọng, một mục đích: Hòa Bình!Mẹ cũng như bao bà mẹ tiễn đứa con trai yêu thương, tiễn núm ruột dứt ra của mình lên đường ra trận, đành gạt nước mắt vào trong để các con an lòng ra đi giành lại hòa bình, giành lại non sông.”, “Mẹ cầu mong các con mạnh khỏe, bình an làm tròn nghĩa vụ của người con trai trong thời chiến. Mẹ cầu mong nhanh chóng hòa bình để mẹ con, gia đình ta được sớm sum vầy.” (thư của mẹ anh Nguyễn Phùng Hồng), “Em cũng viết cho anh, may sao trong chặng đường gập ghềnh gian khổ ấy nó bay đến anh” (thư của vợ Đại tá Phạm Xuân Sinh), “Sim viết thư và chụp ảnh gửi cho K. Lá thư ấy Sim đã viết và ôn lại tất cả kỷ niệm thời thơ ấu gửi đến cho K”, “Sim đã viết với tất cả lòng mình”, “Sim gửi thư cho K và mong chờ lá thư nóng bỏng từ chiến hào gửi về (thư của bạn gái anh Nguyễn Văn Khoa),…

 

7.

Không chỉ có thư của những chiến sĩ, những người lính trực tiếp cầm súng, qua bộ sách, bạn đọc còn có dịp biết được một góc trong đời sống tâm hồn của Nữ tướng Nguyễn Thị Định qua những trang thư bà viết cho một người đồng đội có tên là “8 Trần” - Bí danh của Thiếu tướng Trần Văn Phác (sau là Bộ trưởng Bộ Văn hóa). Những trang thư không chỉ giúp người đọc hình dung phần nào về những ngày tháng ở chiến trường của bà mà còn cho người đọc cảm nhận rõ rệt về đức tính chân thật, cởi mở, khiêm nhường, sự quan tâm sâu sắc đến mọi người và tinh thần cầu thị của vị Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Qua những trang thư của bà viết cho đồng đội, người đọc hiểu rõ hơn vì sao những chiến sỹ thời đánh Mỹ, những đồng đội, đồng chí của bà thường gọi bà bằng hai tiếng “chị Ba” giản dị nhưng đầy yêu thương và kính trọng.

Ta sẽ gặp ba bức thư được gửi cách đây đã hơn 40 năm nhưng những người thân của các anh chưa từng được đọc và cũng không ai biết tác giả của những bức thư hiện còn hay mất; nếu may mắn sống sót trở về sau chiến tranh thì các anh đang làm gì, ở đâu? Những câu hỏi này chưa được giải đáp. Bởi người lưu giữ ba bức thư này đã từng là thông dịch viên cho Mỹ - ngụy và thư lấy được từ thi thể của người chiến sỹ chuyển thư đã hy sinh trong khoảng thời gian từ 1967 - 1968. Cũng trong bộ sách này, ta sẽ gặp những bức thư rút ra từ gia phả, mang xuống từ bàn thờ, thư của những người cha, người mẹ, người anh, người chị từ trong Nam gửi cho con, em, cháu đi tập kết ở ngoài Bắc; thư của người từng đi lính cho Pháp, thư của cán bộ trực tuyển quân với gia đình có chiến sỹ trẻ vừa đăng ký nhập ngũ; thư của một người lính ở phía “bên kia” viết cho người yêu, khi anh ta ở chiến trường Quảng Trị,…

Chúng ta sẽ gặp những nỗi lòng rất thật, những cảnh tượng rất thật của quê nhà mà người mẹ kể trong những trang thư gửi cho con trai nơi chiến trường xa: “Thấy một bóng áo Tô Châu vai mang ba lô thấp thoáng trên đường làng, mẹ lại giật mình thon thót thầm mong đấy là con, con trai muôn vàn thương yêu của mẹ đang trên đường về thăm mẹ, và mẹ được dang tay ra đón con như ngày nào con đi học xa về ùa vào lòng mẹ”, “ Làng xóm vắng hẳn bóng đàn ông thanh niên trai tráng. Chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ con. Nhà mình mỗi bữa ăn, dù cả 5 bà cháu mẹ con quây quần, nhưng thiếu vắng 2 con, lại toàn đàn bà con gái nên mâm cơm đã chống chếnh lại chống chếnh hơn, cứ như lệch hẳn về một phía”, “Dân xã mình và mấy xã lân cận, những năm rồi, nhất là từ hồi Mậu Thân tới nay, không ít bà ít chị có chồng con ngoài mặt trận, quá sốt ruột, quá lo lắng nên không phải là không có những người tới lui nhà ông Thắng Bói nhờ ông ấy xem để đoán già đoán non, để hy vọng, để tin, và để sống con ạ.”, “đừng làm thằng Bê quay con nhé”, “đừng để cho lũ trẻ con chuyển họ em con thành họ “Đào”,… (thư của mẹ và cô của anh Nguyễn Phùng Hồng).

Chúng ta sẽ được tiếp xúc với một phần trong tình cảm đồng hương, đồng đội, tình cảm của người chỉ huy với chiến sỹ,… của bà Lê Thị Thủy, là nguyên mẫu nhân vật chính trong tiểu thuyết “Chiến công thầm lặng” của Nhà văn Nguyễn Trần Thiết. Ta sẽ được thấy, được hiểu tinh thần, lề lối làm việc đầy trách nhiệm, nghiêm túc và đầy tình thương của Ban Chỉ huy Quân sự địa phương, của những người trực tuyển quân trong những năm kháng chiến chống Mỹ,... (thư của anh Phan Hồng Sơn)…

Chúng ta được đọc những lá thư của những chàng trai, những người lính chưa đến 20, mới 17, 18 tuổi, thậm chí vừa qua tuổi 15 nhưng chứa chất những nghĩ suy chín chắn, những tình cảm sâu nặng với gia đình, Tổ quốc, bạn bè, thầy cô,… (thư các anh Thanh Sơn, Phạm Khắc Duyến, Nguyễn Văn Phải, Trần Cảnh Hùng, Bùi Xuân Hòa, Nguyễn Đức Uyên,…).

Cũng qua Tuyển tập Những lá thư thời chiến Việt Nam, người đọc có thể hình dung phần nào cảnh sống, sinh hoạt của những người dân khu Bốn - vùng tuyến lửa - nói riêng và miền Bắc nói chung trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ: hình ảnh chiếc mũ rơm, căn hầm chữ A, hầm ếch, giao thông hào, hình ảnh chiếc đèn dầu hỏa chui vào” ống tre, ống nứa, chui vào hộp gỗ thậm chí chui vào” cả vào ống pháo sáng của Mỹ, bí mật rọi phần sáng còn lại trên trang sách em thơ, lên cối gạo mẹ giã để nuôi quân, hình ảnh Hội Mẹ chiến sỹ, hình ảnh dân làng cùng góp sức với bộ đội bắn máy bay Mỹ... Cả hình ảnh nghĩ suy của người lớn lẫn trẻ nhỏ đối với những kẻ “Bê quay” hèn nhát... Song bao trùm và xuyên suốt vẫn là tấm lòng yêu thương, nỗi nhớ mong tha thiết của người lính đối với gia đình, Tổ quốc, vẫn là ước vọng Hòa Bình, đoàn tụ...

 



8.

Bạn đọc kính mến!

Cùng với sự phát triển của internet, máy tính nối mạng và điện thoại thông minh, những lá thư được viết bằng bút mực trên giấy, ngày một hiếm dần đi. Thay vào đó là những email (thư điện tử) và đơn giản hơn là tin nhắn qua điện thoại. Ngày nay, công nghệ số hóa cho phép người ta chỉ cần vài thao tác đơn giản trên máy tính, hoặc điện thoại thông minh là có thể gửi thư cho nhau cách xa hàng vạn cây số. Và trong thư không chỉ có nội dung những con chữ, mà còn cả hình ảnh, âm thanh sống động của người thân…

Nhưng có lẽ vì thế, mà những lá thư viết tay, đặc biệt là “Những lá thư thời chiến Việt Nam”, lại càng có giá trị hơn!

Giữa sự im lặng của những con chữ và từ những trang giấy mỏng manh đã cũ kỹ và ố vàng vì thời gian ấy, ta bỗng nhận ra khí phách Việt Nam trong quá khứ hào hùng và cả trách nhiệm với những người đã hy sinh, cống hiến và thời đại chúng ta đang sống!

Cuốn sách này chỉ là sự tiếp nối trong bộ sách tư liệu “Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam” nhiều tập, mà chúng tôi đã, đang biên soạn và xuất bản trong thời gian tới.

Trân trọng cảm ơn các Cựu chiến binh, Thương binh; thân nhân các gia đình Liệt sỹ; các đồng nghiệp và bạn đọc gần xa đã hiến tặng kỷ vật và ủng hộ tư liệu cho cuốn sách này.

Cảm ơn PGS, TS. Nguyễn Thị Ly Khai (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành bản thảo và phát hành cuốn sách này tới bạn đọc gần xa.

Cảm ơn các cựu chiến binh của Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” đã kết nối, tổ chức gặp mặt các nhân chứng, đồng thời cũng là nhân vật và tác giả của Những lá thư thời chiến Việt Nam, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Quỹ (16/8/2005 - 16/8/2015).

Chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ về tư liệu; sự góp ý và phê bình; để những lần tái bản sau bộ sách này được hoàn thiện hơn và phục vụ bạn đọc tốt hơn!

Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh, 4-2015
Nhà văn ĐẶNG VƯƠNG HƯNG