Báu vật đàn bà
7:19 AM | 09/03/2016
Theo bạn, đàn ông và đàn bà khác nhau ở điểm nào? Nghe đồn, mỗi người đều có một “báu vật” của mình, nhưng không ai giống ai? Hậu ngày Tám tháng Ba, xin được post hầu chuyện bà con một truyện ngắn của ĐVN… Mong chờ ý kiến góp ý để tác giả hoàn chỉnh thêm.

 

                             BÁU VẬT ĐÀN BÀ

                                  (Truyện ngắn)

Ngày xửa, ngày xưa...có một vương quốc giàu đẹp. Trị vì "vương quốc ấy là một đức vua hùng mạnh và nhân từ, được muôn dân yêu mến, các nước láng giềng đều kính nể. Chỉ có điều, nhà vua đã có tuổi mà chưa chịu kết hôn cùng ai. Tất cả những thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp nhất nước đều đã được đưa đến để trổ tài quyến rũ, nhưng vẫn không gây được cảm tình, hoặc khiến vua mảy may xúc động.

Đêm ngày, ngoài việc triều chính, nhà vua chỉ ham mê săn bắn, hoặc đọc sách, nghiên cứu văn chương. Ông dửng dưng trước mọi cám dỗ của đàn bà, sắc dục... Điều không bình thường ấy, khiến cho triều đình hết sức lo lắng: đức vua không chịu lấy vợ, thì bao giờ mới có con để kế vị? Người ta sinh có hạn, tử bất kỳ, nếu chẳng may vua băng hà, ngôi báu sẽ truyền cho ai? Ấy là việc trọng đại ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia, đâu phải chuyện đùa!

Thế là suốt một năm liền, cả triều đình nháo nhác họp bàn, bày mưu, hiến kế, hứa thưởng rất hậu cho ai tìm được cách làm cho nhà vua say mê sắc dục và chịu lấy vợ.

Cuối cùng, một nhà thông thái đã thành công. Nhà thông thái ấy đưa đến cho vua một cô gái đẹp, rồi nói như sau:

- Muôn tâu Bệ hạ! Thiếu nữ này đang giữ một báu vật cực kỳ quý hiếm ở trong người, mà cả thế gian không ai có!

Nghe vậy, nhà vua không khỏi ngạc nhiên, tò mò, vội thốt lên:

- Hỡi cô gái kia! Nhà ngươi có báu vật gì mà quý hiếm thế? Hãy đưa ra cho ta xem! Nếu đúng, ta sẵn sàng đánh đổi tất cả số vàng bạc châu báu có trong kho. Còn nếu ngược lại, các ngươi gian dối, thì chớ trách ta!

- Tâu Bệ hạ! - Nhà thông thái bình tĩnh thưa - Thật diễm phúc cho những ai trong đời dẫu chỉ một lần được thấy báu vật này. Bởi vì nó rất khó xem và thưởng thức. Không phải ai cũng xứng đáng và có quyền được xem, vì còn một điều kiện vô cùng khó khăn ạ!

Nhà vua càng tò mò và sốt ruột hơn:

- Ta là vua! Ta có quyền làm bất cứ điều gì mà ta muốn. Chả nhẽ vua lại không xứng đáng được xem báu vật ấy sao! Phái có điều kiện gì, ta thỏa mãn luôn!

Nhà thông thái vẫn từ tốn:

- Tâu Bệ hạ! Xin Người thứ lỗi cho, thiếu nữ này đã có một lời thề độc rằng: Báu vật chỉ xuất hiện trong đêm tân hôn, với người đàn ông nào là chồng của nàng mà thôi...

Nghe vậy, nhà vua quyết định cưới cô gái làm hoàng hậu. Và nôn nóng chờ đợi được xem một báu vật có một không hai trên thế gian.

Đêm tân hôn. Lần đầu tiên nhà vua biết thế nào là hương vị của sắc dục. Ông say sưa tận hưởng sự ân ái, hoan lạc mà quên hết mọi chuyện.

Sớm hôm sau, gặp lại nhà thông thái, chợt nhớ ra chuyện cũ, nhà vua kêu lên:

- Tại sao ta chưa thấy báu vật ?

Nhà thông thái vờ buồn rầu rồi kính cẩn đáp:

- Tâu Bệ hạ! Muộn mất rồi, thần có lỗi là không nói trước: Báu vật ấy chỉ xuất hiện có một lần trong giây lát với mỗi đời người...

- Ta hiểu rồi - Nhà vua thở dài - Khanh không có lỗi. Rồi ta sẽ tự tìm lấy những báu vật khác cho mình.

Kể từ đấy cho tới cuối đời mình, người ta thấy nhà vua không nhắc gì tới chuyện báu vật của nhà thông thái nữa, Nhưng ông đã say sưa tự cưới thêm nhiều cung tần, mỹ nữ, và có con với nhiều người...

 

         

         Vua và các cung tần mỹ nữ (ảnh chỉ mang tính minh họa).


Chả rõ câu chuyện trên có thuộc kho tàng cổ tích của nước ta hay không? Chỉ biết người hay kể cho chúng tôi nghe đến thuộc lòng là cụ Trạng. Năm ấy, bà cụ đã ngoài bảy mươi, nhưng còn khỏe lắm.

Dãy nhà nhỏ, dành cho những hộ độc thân, không nơi nương tựa, do cơ quan Thương binh xã hội tỉnh và Hội từ thiện cùng đóng góp xây dựng, nằm hút sâu trong một con hẻm cạnh bến ô tô và ga tàu hỏa. Cụ Trạng sống ở đây.

Những người “hàng xóm” liền phòng ở với cụ Trạng là cô Thoa và chị Tân.

Cô Thoa, tuổi khoảng bốn mươi, làm nghề viết văn, phòng của cô Thoa bày toàn sách là sách. Cô có chiếc máy chữ nhỏ (thời ấy, chưa có máy tính như bây giờ), chúng tôi đến chơi thường thấy cô lạch cạch gõ máy chữ suốt ngày. Có hôm đêm khuya, đi xem phim về, vẫn thấy cô gõ máy chữ. Cô Thoa nghiện thuốc lá nặng, vừa làm việc, cô vừa ngậm thuốc, nhả khói như đàn ông. Nghe nói, trước kia cô Thoa đã từng là diễn viên văn công, rồi phát thanh viên cho đài của tỉnh. Trước khi về nghỉ mất sức, cô Thoa là cán bộ của Sở Văn hóa Thông tin. Thấy bảo hồi còn công tác, cô Thoa mâu thuẫn rất căng với mấy ông lãnh đạo. Có lần, có đám cãi tay đôi và suýt đánh nhau với ông Phó Giám đốc Sở. Bây giờ, cô vẫn có tiếng là người đanh đá, chẳng chịu một ai.

Trong cả dãy nhà, chị Tân là trẻ nhất, chưa đến hai mươi. Nom chị béo tốt, trắng trẻo, phải nói là khá xinh gái. Nhưng nhìn kỹ mới biết chị bị mù thong manh. Nghe kể, chị là con hoang một người đàn bà nào đó. Sinh nở xong, người đàn bà ấy đem vứt chị ra giữa chợ. Một bà hàng phở hiếm hoi đã nhặt chị về nuôi. Lên mười tuổi, chị Tân bị chạy sởi, rồi hỏng mắt. Bà mẹ nuôi đối xử với chị tàn ác quá người ở. Không được học hành, phải ăn đói, mặc rách mà làm quần quật suốt ngày. Cực hết chịu nổi, chị Tân bỏ nhà hàng phở ra đi... Bây giờ, chị làm nghề cuốn thuốc lá và bán nước chè chén cho khách trên tàu. Tuy không còn nhìn thấy gì, nhưng chị Tân vẫn tự khâu vá và cuốn thuốc lá khéo lắm. Chị có tài chỉ cần sờ vào tiền là biết ngay giá trị của tờ bạc ấy. Chị quen lên xuống tàu xe, đi đủ đường ngang ngõ tắt, đêm cũng như ngày, chưa bao giờ lạc lối về.

Cụ Trạng thường sang giúp chị Tân cuốn thuốc lá. Hình như hai người vẫn góp gạo thổi cơm chung. Cụ bảo từ bé mình đã quen làm lụng, bây giờ ngồi rỗi là không chịu nổi. Nghe cái giọng trọ trẹ, hơi nằng nặng, tiếng pha lẫn giữa vùng nọ với vùng kia, chúng tôi đoán bà cụ quê ở một tỉnh nào đó thuộc miền Trung. Cụ Trạng kể rằng hồi còn con gái, mình bị ép duyên đã bỏ nhà cắt tóc đi tu, thề không bao giờ lấy chồng. Sau, có đơn vị bộ đội về đóng quân ở gần chùa, thấy họ sinh hoạt vui quá, liền “phá giới” xin vào làm nuôi quân. Hết nuôi quân ở đơn vị này lại chuyển sang làm cấp dưỡng cho cơ quan kia... Ngần ấy năm trời; cũng có vài chàng trai theo đuổi, nhưng cứ phân vân mãi, chả ưng ai, thành ra “quá lứa nhỡ thì” cho tới lúc nghỉ hưu. Dạo còn công tác, một lần không may bị tai nạn lao động, ảnh hưởng tới cột sống. Càng về già, cái lưng cụ Trạng thỉnh thoảng trái gió, giở giời càng đau nhức và thêm còng gập xuống. Bây giờ đi một bước cũng phải có cái gậy, mắt cũng kém tinh đi, lại phải cái chứng thấp khớp nó hành hạ luôn, nhiều lúc muốn chết cho rảnh mà chẳng chết được...

Cụ Trạng rất hay chuyện. Nếu có người ngồi nghe, bà cụ cứ thao thao kể hết chuyện nọ đến chuyện kia, suốt ngày không biết mệt. Người già thường hay sống bằng kỷ niệm. Hơn bảy mươi tuổi, bà cụ chẳng thiếu gì chuyện để nói. Chuyện vui có, chuyện buồn cũng có. Mà đời người thường buồn nhiều hơn vui. Có khi vừa kể, cụ Trang vừa sụt sùi, rơm rớm nước mắt. Nhưng vừa khóc đấy, lại cười được ngay. Thành thử, nhiều người vẫn bảo cụ Trạng lắm điều và có tính dở hơi. Lắm lời thì đúng, còn dở hơi thì tôi chả tin! Một người nói năng lưu loát thế, dở hơi sao được. Có thể đôi lúc tuổi già đã làm cho bà cụ lú lẫn và lẩm cẩm chăng? Ví như có lần giữa đêm khuya, ngồi trên mái tầng ba của ký túc xá học sinh cạnh đó, chúng tôi vẫn nghe rõ cụ Trạng oang oang tự kể chuyện đời mình. Bà cụ đang nhớ lại một lần nấu cơm khê, cơm sống gì đó... thì có tiếng cô Thoa:

- Bà nói nhỏ một tí, khuya rồi bà ơi!..

- Cái giọng tôi nó thế. Không nói nhỏ được.

- Thì ngày mai bà lại nói. Để yên cho người khác ngủ với chứ!

- Ai làm gì cứ làm, ai ngủ cứ việc ngủ. Tôi có mồm tôi phải nói. Không muốn nghe thì bịt tai lại.

- Bà quá thể lắm! Sống phải có làng có nước, phải nghĩ tới mọi người xung quanh....

- Phả, tôi sống cô độc, chỉ biết có mỗi mình. Còn chị thì chồng con đàng hoàng, hạnh phúc lắm nhỉ!...

- Tôi chắp tay van bà, bà im đi cho tôi nhờ....

Thường câu chuyện kết thúc khi tiếng cô Thoa hét lên bực tức rồi tiếng cụ Trạng cười thích thú. Chúng tôi hiểu bà cụ không có ý chơi ác. Buồn quá, cố tình làm vậy cho vui thôi…

Những lúc rỗi rãi, ngày nghỉ, tụi con gái lớp tôi thường hay kéo xuống nhà cụ Trạng, nghe bà cụ kể chuyện và cuốn thuốc lá cho chị Tân. Hết chuyện đời thực của bà cụ, lại tới chuyện cổ tích. Nhiều chuyện, chúng tôi biết bà cụ bịa một trăm phần trăm mà vẫn cứ thích. Cũng có những chuyện, kiểu như “Báu vật  đàn bà”, cụ Trạng thề sống thề chết là nghe ông nội  mình kể lại. Nhưng thật hay là bịa, điều đó với chúng tôi chẳng quan trọng lắm. Còn nhớ, một lần sau khi nghe cụ Trạng “tái bản” lại chuyện Báu vật, mấy đứa chúng tôi cùng bật cười rinh rích. Bà cụ chợt làm bộ nghiêm nét mặt:

- Tụi bay hiểu biết chi mà cũng cười?

Một đứa trong bọn mạnh bạo nói:

- Báu vật nghĩa là... cái ấy, phải không bà?

- Bậy nào!. - Giọng bà cụ chợt thấp xuống vừa đủ nghe. - Đấy là sự thiêng liêng. Đàn bà ai cũng có, nhưng nhiều người không biết giữ gìn, tự đánh mất đi.

Chúng tôi không cười nữa. Một đứa lại hỏi:

- Thế giữ gìn báu vật có khó không bà?

- Khó hay dễ còn tùy mỗi người. Nhưng ở thời chúng tao cơ. Chứ thời bây giờ - bà cụ lắc đầu - khó lắm! Tao không tin tụi bay đứa nào cũng giữ được báu vật tới khi lấy chồng...

Mấy đứa cùng đỏ mặt, nhìn nhau im thin thít.

 

*

Đã thành công việc quen thuộc, buổi trưa nào chị Tân cũng cùng cái gậy lần sở theo chuyến tàu xuôi về Hà Nội bán hàng cho khách trên tàu, tối khuya lại theo chuyến tàu đó ngược lên. Cũng có khi chị ngủ trọ ở đâu đó, hôm sau mới về nhà để lấy hàng, lại đi tiếp.

Bỗng có một dạo, dễ đến hai tuần liền không thấy chị Tân về nhà lấy hàng. Chúng tôi hơi lạ. Cụ Trạng bực bội bảo:

- Hôm kia, có người nhìn thấy nó ăn phở cùng với mấy đứa chuyên đi buôn chuyến. Con bé khéo không hư  hỏng mất!

Hai ngày sau chị Tân về, chị dò dẫm đi trước, dẫn theo mấy người đi buôn cà chua thật. Họ gồng gánh theo nhứng chiếc sọt đựng đầy hàng và chất đầy phòng chị. Chị Tân bảo mình không đi bán hàng rong trên tàu nữa, một mình đêm hôm vất vả, lời lãi chẳng được là bao. Chị sẽ đi buôn chuyến, có nhiều bạn bè, vừa vui lại vừa nhanh được tiền. 

Mùa nào thức nấy, chị Tân cùng bạn hàng mang cà chua, hồng xiêm, dưa lê... từ Hà Nội lên Thái. Rồi mang chè búp từ Thái về Hà Nội. Chị ăn ngủ luôn trên tàu. Mấy ngày mới đảo qua nhà một lần chốc lát rồi lại đi ngay. Đi buôn sẵn tiền, chị Tân sắm quần bò, áo phông và kính râm. Chị ăn diện vào, khiến chúng tôi gặp ngỡ ngàng chẳng nhận ra.

Một hôm, chị Tân dẫn về mấy người bạn. Họ mua gà vịt, bia, rượu...tổ chức ăn uống linh đình. Chị Tân khoe cả bọn vừa mới trúng một “quả đậm”, mời cụ Trạng và cô Thoa sang cùng ăn mừng. Nhưng cả hai người cùng viện lý do chả ai chịu sang. Ăn xong, chị Tân cùng những người bạn còn đàn hát cho tới khuya mới kéo nhau đi...

Cụ Trạng bực bội lắm, phàn nàn với cô Thoa:

- Cái Tân hư hỏng thật rồi! Ai đời đã ăn mặc hở hang như thế, lại còn đứng ôm nhau nhún nhảy, dậm dật như lên đồng ấy...

Cô Thoa cười ngặt nghẽo:  

- Chẳng phải lên đồng đâu. Chúng nó nhảy đít-cô với nhau đấy chứ!

- Tôi chẳng biết đít-cô hay đít-cậu gì cả. Nhưng trai gái mà đứng ôm nhau ưỡn ẹo thế, nhìn ngứa cả mắt!

- Thanh niên bây giờ sống phải như vậy, bà lạc hậu mất rồi!

- Vâng, tôi lạc hậu! Nhưng văn minh như các cô ấy, rồi có ngày lại chửa phễnh bụng ra cho mà xem!

Điều cụ Trạng lo lắng đã thành sự thật. Một tháng sau ngày ấy, chị Tân đột ngột trở về, không đi buôn chuyến nữa. Gương mặt chị hốc hác, mắt đỏ hoe. Cụ Trạng tinh ý, hỏi ngay:

- Mày “bị” rồi, phải không cháu?

Cô Thoa cũng ái ngại, bảo:

- Nếu đúng thì đừng có xấu hổ, đi nạo sớm ngày nào đỡ hại người ngày ấy em ạ. Bây giờ Nhà nước đang khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch, thủ tục vào bệnh viện phá thai đơn giản lắm.

Chị Tân không nói gì, chỉ im lặng khóc.

Rồi cái bụng của chị cứ to dần lên...

Từ ngày chị Tân đi buôn chuyến, cụ Trạng không có việc gì làm. Bây giờ chị về rồi, hai bà cháu lại cuốn thuốc lá. Nhưng cuốn xong không mang bán rong trên tàu nữa, mà giao luôn cho mấy hàng nước gần nhà. Có thêm thu nhập, lại đỡ buồn, một hôm ngồi cuốn thuốc, cụ Trạng rủ rỉ bảo chị Tân:

- Đành rằng phải theo chính sách là đúng. Nhưng tao cứ thấy nạo thai nó thiếu nhân đức thế nào ấy. Để đẻ rồi nuôi cũng được cháu ạ. Nhiều người không có chồng, còn tự đi kiếm con ngoài giá thú về nuôi cơ mà.

- Vâng, cháu cũng nghĩ thế - Chị Tân thổ lộ - Chúng cháu yêu nhau. Anh ấy hứa khi nào cháu ở cữ sẽ về chăm sóc và cho tiền để cháu nuôi con.

- Người ở đâu? Sao không bảo nó cưới đi?.

Cháu không biết quê, nhưng anh ấy yêu cháu lắm! Anh thú thật là có vợ rồi. Vợ anh ấy hay ghen. Hai người đang muốn ly dị nhau.

- Đừng có tin những loại đàn ông như thế - Cô Thoa ở phòng bên cũng lên tiếng góp chuyện, giọng bực bội - Chúng nó toàn Sở Khanh cả đấy. Thằng nào cũng ngọt nhạt, hứa hẹn đủ điều. Nhưng thỏa mãn, sung sướng rồi thì quên hết ngay, bỏ mặc chị em mình sống chết không cần biết!  

- Còn tùy người chứ. Đàn ông cũng có năm bảy loại...  

- Có năm bảy loại tốt xấu thật đấy. Nhưng đàn bà mà ngây thơ dại dột, thì chỉ gặp loại đàn ông đểu cáng thôi!

Càng nói, giọng cô Thoa càng gay gắt hơn, như sắp cãi nhau to. Cụ Trạng đành im lặng.

 

*         

Thì ra, cô Thoa đã có một thời con gái “oanh liệt". Nghe bảo hồi ấy cô đẹp lắm. Biết bao chàng trai đã chết mê chết mệt vì cô. Cùng một thời gian, cô yêu cả mấy anh. Nhưng chỉ yêu chơi bời thôi chứ chả thèm lấy ai. Những người tình của cô toàn cỡ đi xe cúp đời mới đến nhà, rước người yêu đi chơi... Kết quả của những mối tình ấy là cô Thoa đã nạo thai ba lần, đẻ non một lần. Sau lần sinh nở không thành, cô Thoa bị hậu sản nặng. Bác sĩ bảo cô không thể có con được nữa. Ở bệnh viện về, cô Thoa sinh ra bẳn tính, hay cáu gắt với mọi người, nhất là với đàn ông. Hình như cô Thoa lúc nào cũng sẵn sàng sinh sự và bốp chát với họ, nên mấy người vốn có tính lẳng lơ trong cơ quan sợ cô một phép.

Hình như sự ác cảm với đàn ông còn được cô Thoa dồn vào trong những sáng tác của mình cho hả. Những tác phẩm nào cô Thoa viết ra mà có nhân vật là đàn ông, thì những người đàn ông ấy thường tiều tụy, méo mó, hoặc bỉ ổi, đểu cáng đến căm ghét. Có lẽ trong đời thực, cô Thoa vẫn giữ sự cực đoan của mình bằng cách nhìn, cách nghe để cảm nhận giới mày râu.

Nói trộm vía cô Thoa chứ, không biết hồi trẻ cô xinh đẹp đến mức nào, còn bây giờ người cô cứ khô đét lại, dài đuồn đuỗn. Chúng tôi có nghe một nhà điêu khắc nói rằng: Thân hình người phụ nữ qúy nhất là ở cái mông, cái eo và cái ngực. Nếu đàn bà mà thiếu hai thứ đó thì trông còn đáng buồn hơn cả đàn ông! Chẳng biết cô Thoa có thấy buồn không?   .           .

- Vì tò mò, có đứa trong lớp tôi đã phát hiện ra một điều thú vị: Cô Thoa có chiếc váy hoa rất đẹp. Nhưng cô chỉ mặc mỗi ngày có một lần, mỗi lần chừng mười lăm phút vào lúc đêm đã khuya. Khi ấy, hầu hết các gia đình ở xung quanh nhà cô Thoa đã đi ngủ, chỉ còn bọn sinh viên chúng tôi thức để ôn bài. Cô Thoa tắt đèn phòng mình, cởi bỏ bộ quần áo ngủ thường mặc ở nhà, thay vào đó là chiếc váy hoa, rồi ra đứng giữa sân vươn vai tập những động tác thể dục. (Có đứa còn cam đoan rằng đó là những điệu vũ chứ không phải thể dục). Tập xong, khi vào trong phòng bật sáng lên, chúng tôi lại thấy cô Thoa mặc quần áo ngủ. Những ngày đầu, cả bọn con gái lớp tôi kéo nhau ra ban công ngó xuống xem. Sau quen dần, chẳng đứa nào để ý nữa, khi đêm nào cô Thoa cũng mặc váy hoa và tập thể dục đều đặn. Ngắm cô Thoa uyển chuyển trong chiếc váy hoa, chúng tôi cảm nhận được rằng: sự dịu dàng, thùy mị của một người phụ nữ vẫn còn trong cô.

 

*         

 

Chị Tân đã đẻ con trai vào giữa mùa hè. Thằng bé kháu khỉnh và bụ bẫm, nặng tới ba cân rưỡi.

Đúng như lời cô Thoa nói: ở cữ đã được nửa tháng rồi mà chả thấy tăm hơi bố thằng bé đâu. Trong khi đó, chị Tân lại mất sữa vì bị nhiễm trùng gì đó, phải tiêm kháng sinh quá nhiều. Mọi việc giặt giũ và chăm sóc đứa bé, những ngày đầu đều do cô Thoa và cụ Trạng lo.

Ba người đàn bà, già có, trẻ có, nhưng chưa ai có kinh nghiệm nuôi con, nên cứ lúng ta lúng túng suốt ngày với đứa trẻ. Thằng bé lại có tính háu ăn đến kỳ lạ. Nó đòi ăn suốt ngày. Vừa rời chiếc vú cao su ra khỏi mồm được một lát đã khóc ngằn ngặt.

Giá cả đắt đỏ, tiền chi tiêu cần nhiều, chị Tân phải bán dần đồ đạc, quần áo của mình đi để mua từng hộp sữa bò cho con. Ăn rồi, thằng bé cứ xậm xoẹt ỉa đái suốt ngày. Người sáng mắt đã vất vả, huống chi người mù, nuôi con thật cực khổ.       

Bỗng một hôm, có người đàn bà lạ xách một làn quà đến thăm mẹ con chị Tân. Sau một hồi úp mở rào đón mãi, người đàn bà ấy tỉ tê bắn tin qua cụ Trạng rằng: Nếu chị Tân đồng ý, thì ông Bảy ở xóm Trong sẽ sắm cái lễ đến xin đón mẹ con chị về nuôi.

Ông Bẩy Lùn ở xóm Trong thì ai cũng biết: ông làm nghề xe bò. Nhà giàu có lắm, chỉ mỗi tội sinh con một bề, bảy tám cô con gái lộc ngộc, mới có hai đứa lấy chồng. Ông ước ao có được thằng con trai để sau này còn có người chống gậy và thờ cúng. Vợ ông Bảy mới chết nửa năm nay.

Cụ Trạng bảo chị Tân:

- Đồng ý đi con ạ. Mình mù lòa tàn tật thế này lại nhỡ nhàng, có người thương cho là tốt lắm rồi. Nhà người ta cũng giàu có, sau này được nhờ đấy...

Nghe vậy, cô Thoa gạt đi ngay:

- Lấy làm gì, ông ấy đã hơn sáu mươi, gần bằng tuổi ông nội mình. Nay mai lăn ra chết, còn một lũ con lớn, có mà hớp được của nhà người ta ngay đấy!

Hôm sau, ông Bảy nhờ mấy người mang lễ vật đến. Tiếng là xin đón mẹ con chị Tân về nuôi, nhưng phải ngầm hiểu đây là đi hỏi vợ.

Họ hàng chị Tân chả có ai, cụ Trạng và cô Thoa phải đóng vai “đại diện nhà gái” tiếp khách và nhận lễ. Mấy người đàn bà cùng xúm vào thuyết phục... Cuối cùng, vì hết tiền, hết gạo, chị Tân đã thuận để cho ông Bảy đón con trai mình về nuôi. Còn chị, thì chị nhất định không chịu làm vợ của ông Bảy. Hai bên đã làm giấy cam kết hẳn hoi: khi con trai chị trưởng thành, nó phải có trách nhiệm với cả hai bên bố mẹ.

Người ta bế thằng bé đi giữa lúc nó đang ngủ say. Chị Tân nằm úp mặt lên gối khóc suốt ngày hôm ấy, không chịu ăn uống gì cả. Cụ Trạng cũng sụt sùi khóc theo. Duy chỉ có cô Thoa là im lặng, nhưng mắt cũng đỏ hoe...

 

*

Mấy năm đã trôi qua, kể từ ngày chúng tôi ra trường và nhận công tác. Gần đây, trong dịp trở lại trường cũ để nhận tấm bằng tốt nghiệp, mấy đứa chúng tôi rủ nhau xuống thăm cụ Trạng.

Dãy nhà tập thể dành cho những hộ sống độc thân vẫn thế. Duy chỉ có căn phòng chị Tân ở trước vừa được nối thêm một cái gian nhỏ. Chúng tôi hồi hộp bước vào. Nhưng ra đón chúng tôi không phải là chị Tân mà là cô Thoa. Nom cô già thêm nhiều, ánh mắt buồn khó tả.

- Mời các cháu vào trong nhà chơi đi! - Cô Thoa vừa nói vừa thu gọn mấy chiếc quần áo trẻ con bừa bộn trên giường. Cô vừa đón một em bé, con người em gái của cô lên đây nuôi. Nhà chật quá, phải thuê người nối thêm ra đấy.

Thấy chúng tôi tò mò nhìn căn phòng bài trí khác với nếp sinh hoạt của cô trước đây, cô Thoa mỉm cười, tự thanh minh:

- Các cháu ngạc nhiên lắm sao? Cuộc đời người đàn bà nếu không có chồng con thì chẳng còn ý nghĩa gì cả! Cô không sinh nở được, nhưng có ai cấm mình nuôi con đâu!

- Chị Tân không ở đây nữa hả cô? - Một đứa bạn tôi hỏi.

- À, chị Tân lấy chồng được hơn năm nay rồi. Chồng chị ấy là một người hát xẩm ở trên tàu. Hai người cùng cảnh mù lòa nên thương nhau lắm, sống với nhau rất hạnh phúc. Chị Tân đã đến chuộc lại đứa con trai mình ở nhà ông Bảy về nuôi. Vừa rồi vợ chồng chị ấy lại sinh thêm một cháu gái nữa.

- Cụ Trạng bây giờ thế nào hả cô?

- Cụ Trạng mất rồi các cháu ạ. Cụ mất đã được gần nửa năm, sau một trận ốm nặng. Mộ của cụ chôn ở ngoài nghĩa địa trên đồi cao kia kia!

Theo tay cô Thoa chỉ, chúng tôi xin phép cô lên thăm mộ cụ Trạng. Tấm bia đá chưa phai mờ tên người đang nằm dưới đất, nhưng cỏ xanh đã trùm kín nấm mồ.

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm! Chợt nhớ câu thơ xưa, chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động, sau khi đã thắp mấy nén nhang, kính cẩn cúi đầu trước hương hồn người đã khuất.

Thế là cụ Trạng không còn nữa!.

Tôi bỗng liên tưởng tới câu chuyện “Báu vật đàn bà” mà cụ Trạng vốn thường kể cho chúng tôi nghe mấy năm trước. Nếu đúng mỗi người đàn bà đều sẵn có một báu vật thiêng liêng, thì có lẽ đến phút chót của cuộc đời mình, cụ Trạng vẫn còn giữ nguyên vẹn cái báu vật ấy để mang theo cùng cái chết. Chẳng biết  nó có liên quan gì tới số phận và hạnh phúc của bà cụ không?

Vĩnh viễn đó là một bí mật!

 

                         Đặng Vương Hưng